Viết một bài để những năm sau Facebook còn nhắc lại.

Ấp ủ viết một cái gì đó về đề tài này lâu rồi, vì mình đã đọc và rất thích những cuốn sách như cuộc đời của điệp viên Phạm Xuân Ẩn và cuốn sách The Fall of Saigon, được viết bởi một phóng viên chiến trường nước ngoài. Quyển thứ 2 thì chỉ có bản tiếng Anh, liệt kê khá tường tận những sự việc diễn ra trong thời gian đó qua lăng kính của một người nước ngoài.

Thật ra cái kết vào dịp tháng 4 năm đó đến quá bất ngờ và chóng vánh. Về tương quan lực lượng thì trước giờ miền Nam luôn nổi trội hơn miền Bắc, ngay cả trong các áp-phích thông tin phe miền Nam luôn tự hào về khí lực hùng hậu, sự hậu thuẫn của Mỹ và sự chuyên nghiệp của các tướng lĩnh được đào tạo bài bản.

Cuộc chiến tranh năm đó, có một phần góp công rất lớn từ các điệp viên ngầm được cài tại miền Nam Việt Nam, mà nổi bật nhất là nhà báo Phạm Xuân Ẩn. Với cái nhìn nhạy bén về thời cuộc, khả năng phân tích chính trị, ông đã cung cấp rất nhiều thông tin quan trọng cho lực lượng giải phóng miền Bắc.

Đỉnh điểm là cuộc Tổng Công Kích Mậu Thân 1968. Quân lực miền Nam Việt Nam và quân đội Mỹ chưa bao giờ có thể hình dung ngay cả trong những giấc mơ hoang đường nhất của họ, là lực lượng phía Bắc dám tấn công trực diện vào nội thành Sài Gòn như vậy. Điều đó khác gì tự sát! Thời điểm lựa chọn vào mùa Tết cũng là thời điểm buông lỏng phòng thủ, bà con về nhà ăn Tết cả. Hiệp định đình chiến thì vẫn còn có hiệu lực. Tuy nhiên, trong chiến tranh, thì lằn ranh của các tiêu chuẩn chính trực là khá mờ nhạt.

Mặc dù cuộc tập kích năm đó đã bị đẩy lùi, nhưng nó có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng và ảnh hưởng lâu dài, làm thay đổi cục diện chiến tranh và cán cân quyền lực. Liệu điều đó có phải nằm trong kế hoạch ban đầu không, thật sự không ai biết. Trong chiến tranh, không phải bên nào quân đông hơn, trang bị kỹ càng hơn là thắng; mà còn có nhiều yếu tố ngoại vi khác.

Đã có một nhân vật nổi tiếng từng nói “Chính báo giới Mỹ đã phản bội lại cuộc chiến tranh Việt Nam”. Thông tin về cuộc tập kích dịp Tết năm đó, những con số thương vong của binh lính Mỹ, và đặc biệt là bức ảnh chấn động của thiếu tá Nguyễn Ngọc Loan kê súng vào thái dương của một chiến sĩ cộng sản, đã làm rúng động công chúng Mỹ. Các phóng viên chiến trường tại Việt Nam liên tục gửi những bài phóng sự miêu tả tình hình cuộc chiến về toà soạn ở Mỹ, chính những bài báo này đã gây sự bất bình lớn trong người dân Mỹ. Họ tự hỏi tại sao nước Mỹ lại bị lôi vào một cuộc chiến ở một đất nước Đông Á xa xôi ? Tại sao con cháu, anh em của họ phải đổ máu cho một cuộc chiến tranh vô nghĩa ? Những sự vụ như Mỹ Lai, rồi bức hình của thiếu tá Loan đã vẽ nên bức tranh tàn bạo của chiến tranh. Những cuộc biểu tình phản chiến liên tục xảy ra.

Thật ra Mỹ không có một dự định rõ ràng cho Việt Nam tại thời điểm đó. Khi lính Mỹ đổ bộ vào Việt Nam để tiếp quản sự đầu hàng của quân đội Nhật chiếm đóng tại đây, họ chỉ làm một nhiệm vụ của quân Đồng Minh. Ngoài ra, họ có một nhiệm vụ là phải kiềm hãm sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng Sản từ Nga, rồi đến Trung Quốc, và Việt Nam, và nhiều quốc gia khác trong khu vực. Sự việc Nhật dám đánh bom nước Mỹ, một đảo quốc nhỏ bé ở Châu Á dám đụng đến người khổng lồ phương Tây, là một vết thương và bài học cho chính quyền Mỹ. Họ phải tạo một tiền đồn ở Châu Á, đồn trú lực lượng ở Hàn Quốc, và sau đó là Việt Nam.

Như trong mọi cuộc chiến tranh khác của nước Mỹ, cuộc chiến kéo dài, và Mỹ phải tiêu tốn khá nhiều để xây dựng lực lượng quân đội ở miền Nam, tuy nhiên kết quả mang lại vẫn không nhiều. Vĩ tuyến 17 chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam, tình thế lúc đó chắc cũng giống Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên bây giờ.

Trong khi đó, chính trường miền Nam lại có quá nhiều biến động thời gian đó. Sự vụ Tổng Thống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo, rồi vụ tự thiêu của hoà thượng Thích Quảng Đức, làm chấn động dư luận. Các tướng tá miền Nam cũng đấu nhau quyết liệt, đảo chính và thay đổi chính quyền. Nói chung phe phái đấu đá, ông nào cũng dữ. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và em trai bị bắt đi và hạ sát mà không tìm thấy xác. Sự xáo trộn liên tục cũng làm tổn thương và chia rẽ ngay trong hàng ngũ quân đội miền Nam lúc đó. Nhiều tướng chỉ lo vun vén cho bản thân và gia đình, cuộc sống xa hoa và hiện đại làm biến chất con người.

Những giai điệu nhạc vàng vẫn hàng đêm văng vẳng ở các quán xá Sài Gòn, như ru hồn người chiến sĩ. Nếu nói về khái niệm tâm lý chiến thì quân miền Nam lúc bấy giờ căng thẳng và mệt mỏi, tinh thần họ đi xuống khi nghe những khúc ca não nề về việc xa nhà, đời lính chiến; trong khi đó ở miền Bắc, thì các ca khúc hào hùng cách mạng vẫn được ra đời và lan truyền trong chiến sĩ, góp phần tăng sỹ khí.

Đôi khi mình hình dung tinh thần của quân miền Bắc và miền Nam lúc đó giống như tinh thần giữa công ty startup và các công ty đã trưởng thành. Sự khác biệt chính là công ty startup vì nhỏ và yếu, họ không có gì để mất, nên họ rất tập trung, họ chịu kham khổ vì họ tin vào một tương lai tươi sáng phía trước, họ sẵn sàng hy sinh; các công ty đã trưởng thành thì lại không như vậy. Họ đấu đá nội bộ và chậm chạp trong việc thích nghi những thay đổi. Những câu chuyện về chàng David thắng người khổng lồ Goliath vẫn tồn tại.

Tuyên giáo đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tinh thần chiến sĩ, quân lực miền Bắc vẫn luôn tin rằng họ đang chiến đấu để giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đô hộ của đế quốc Mỹ. Nên ngày Thống Nhất sự xa hoa hiện đại của miền Nam cũng làm những người chiến sĩ bất ngờ.

Quay lại chủ đề chính, thì chính việc Mỹ rút viện trợ quân sự đã dẫn đến sự sụp đổ của quân lực miền Nam. Vốn đã quen với sự chu cấp của Mỹ, quyết định đó là gáo nước lạnh vào những người đứng đầu ở miền Nam. Dưới áp lực của người dân Mỹ đòi rút con họ về lại Mẫu quốc, Quốc hội Mỹ cũng không ủng hộ việc tiêu tốn ngân sách cho chiến tranh Việt Nam, và vụ scandal chính trị Watergate lùm xùm, Tổng Thống đương nhiệm không có cách nào khác là phải rút viện trợ với chính quyền miền Nam.

Đó chính là thời cơ của quân đội miền Bắc. Cũng chính điệp viên Phạm Xuân Ẩn đã rất nhạy bén phân tích tình hình, cộng với việc được tiếp nhận thông tin sớm từ toà soạn, đã chuyển thông tin cho miền Bắc, dẫn đến quyết định Tổng tiến công lịch sử. Quân lực miền Bắc đã trèo đèo lội suối, đi dọc hết chiều dài đất nước để tiến vào miền Nam. Họ vững tin rằng cuộc chiến tốn nhiều xương máu này sắp kết thúc.

Khi thế trận đã ngã ngũ, một vài tướng của VNCH đã tuẫn tiết hoặc chạy ra nước ngoài. Cũng may tướng Big Minh đã khôn ngoan không tử thủ Sài Gòn, không thì con số thương vong còn có thể nhiều hơn.

Tướng Big Minh sau này trở thành biểu tượng hoà hợp giữa 2 chế độ.

Câu chuyện sau ngày đó thì chắc nhiều người cũng đã biết, thiết nghĩ không nên nhắc lại. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, nếu những người miền Bắc không tiến hành những việc như vậy, thì liệu không biết xung đột có còn kéo dài không. Thời thế lúc ấy vô cùng nhạy cảm, và vẫn còn kha khá lực lượng miền Nam đang rải rác, nếu không giải trừ thì nguy cơ vẫn còn đó. Vụ nổ bom con rùa ở Hồ Con Rùa là một ví dụ điển hình.

Ngày hoà bình lập lại, rồi công cuộc tái thiết đất nước. Có những quyết định đúng, những quyết định gây tranh cãi, nhưng Việt Nam may mắn là đã tự nhận ra và tiến hành công cuộc cải tổ, phát triển mảng kinh tế tư nhân. Nếu so sánh thì chúng ta vẫn khá may mắn so với những trường hợp như Bắc Triều Tiên.

Bây giờ là thời bình, và chúng ta may mắn được hưởng những phút giây yên bình, nên trân quý điều đó. Mình biết nhiều người vẫn còn hoài niệm về một Sài Gòn phồn vinh năm nào, tuy nhiên lịch sử là lịch sử. Tiếc nuối, nhưng đâu thể làm gì. Tốt nhất là cần nhìn về tương lai và tập trung phát triển kinh tế – xã hội.

Có những cái chưa ổn, thì chúng ta vẫn phải chỉ ra, phê bình, tạo dư luận xã hội để có thể tạo ra sự thay đổi. Những phản kháng tiêu cực chỉ tự làm khổ bản thân.

Thế hệ ngày xưa, giờ ở hải ngoại, thì cũng đã già hoặc mất gần hết. Chỉ còn một số ít vẫn bám víu về vàng son năm nào. Thế hệ thứ hai sinh ở Mỹ thì cũng lo tập trung làm việc, hoà nhập vào cộng đồng người Mỹ. Họ vẫn nói, nhưng điều đó cũng không còn mấy ảnh hưởng nữa. Các cơ sở phát thanh, phát hình bên đó ngoài việc hoài niệm về chế độ cũ và phê phán chế độ mới, thì lại quay sang tố lẫn nhau là lừa đảo. Ngẫm rằng, tính của người Việt Nam bao đời vẫn vậy. Trong thời chiến thì đoàn kết lắm, trong thời bình thì lại nồi da xáo thịt.

Rồi trăm năm sau, liệu ai còn nhớ?….

Kể lại chuyện năm xưa, để nhận ra rằng, cả hai phe, họ đều làm những việc mà thời thế lúc đó buộc phải làm. Những người lính, trong cuộc chiến đó, họ xứng đáng được tôn vinh vì sự quả cảm, anh hùng trong chiến đấu. Họ đã chiến đấu cho lý tưởng của mình, bảo vệ đồng bào và gia đình.

Công cuộc hoà hợp dân tộc thì vẫn còn mất thời gian khá dài. Mừng là có những tín hiệu các kiều bào về đầu tư, làm kinh doanh tại Việt Nam. Họ sẽ là nhân tố xúc tác cho quá trình này.

Xin mượn hai câu thơ của thi sĩ Nguyễn Duy để kết bài viết này:

Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại

30/4/2018

Johnny Tuan Nguyen